BÀI HỌC 2009-2010

ƠN PHỤC SINH VÀ ÐỜI SỐNG VĨNH CỬU.

(x. SGLC từ 0992 đến 1065)

“Chúng ta đang hành trình hướng về chung cục lịch sử nhân loại” (MV 45). “Chúng ta không biết được thời gian hoàn tất của trái đất và nhân loại… nhưng chúng ta biết Thiên Chúa đã dọn sẵn một chỗ ở mới và một đất mới… Khi ấy sự chết sẽ bị đánh bại, con cái Thiên Chúa sẽ phục sinh trong Chúa Kitô” (MV 39). “Ðấng làm cho Ðức Giêsu sống lại… cũng sẽ làm cho thân xác của anh em được sự sống mới” (Rm 3,11).

I. Ý nghĩa của sự chết theo Kitô giáo.

Chết là một sự thật hiển nhiên không ai thoát khỏi và chối cãi. Người Việt Nam thường nghĩ: xác là thể phách còn hồn là tinh anh, xác là thể phách nên phải chết, hồn là tinh anh nên còn. Tin tưởng này không ai lạ với niềm tin Kitô giáo: chết là hồn lìa khỏi xác, hồn là thiêng liêng nên bất tử, xác là vật chất nên hư nát. Chết là chấm dứt cuộc sống trần gian. Nhưng tại sao chết? Ðó là bí ẩn cao nhất về thân phận con người (MV 18). Kitô giáo dạy rằng: Thiên Chúa sáng tạo con người là hồn và xác. Người không muốn con người phải chết, chết là hậu quả của tội lỗi (Rm 5,12).

Khi Chúa Kitô đến trần gian, chấp nhận chịu chết vì muốn vâng phục thánh ý Chúa Cha, rồi được sống lại và về trời, Người đã biến đổi ý nghĩ sự chết. Do đó ai tin Chúa Kitô thì:

  • “Chết là một mối lợi” (Pl 1,21) vì được ở với Chúa Kitô, theo nghĩa được hiệp thông trọn vẹn với Người mãi mãi (pl 1,23).
  • Chết là sự sống được biến đổi: “Ai tin Chúa Kitô thì khi chết, sự sống không bị tiêu hủy mà được biến đổi để họ về hưởng phúc vĩnh cửu trên trời” (Kinh Tiền tụng I lễ Cầu Hồn).

Như vậy, “phận con người là phải chết một lần rồi sau đó chịu phán xét” (Dt 9,27). Không có chuyện đầu thai sang kiếp khác. Nên Kitô hữu phải chuẩn bị cho giờ chết của mình để được chết lành, và xin Ðức Maria chuyển cầu cho “khi này và trong giờ lâm tử”.

II. Sự sống lại của Chúa Kitô và của chúng ta.

Việc xác sẽ sống lại vẫn là một điều xưa nay khó được chấp nhận, nhất là đối với con người sống trong thời đại khoa học kỹ thuật. Tuy nhiên trong Kinh Tin Kính, Kitô hữu tuyên xưng: Tôi tin xác loài người sẽ sống lại. Niềm tin này đã có từ thời Cựu Ước (2Mt ct 7,9-14) và được xác quyết mạnh mẽ khi Chúa Kitô tuyên bố: “Ta là sự sống lại và là sự sống” (Ga 11,25) “ai tin Ta”… “ai ăn thịt và uống máu Ta… Ta sẽ cho họ sống lại vào ngày sau hết” (Ga 6,54). Người cũng làm phép lạ cho một số người chết được sống lại (x. Lc7, 11-7 hoặc Ga 11) nhưng phép lạ này là dấu chỉ loan báo sự sống lại của Người, vì sự sống lại không có nghĩa là Người trở về đời sống như trước, nhưng là sau khi chết, hồn lìa xác, xác Người được an táng (x. Mt 27,5.59-60), ngày thứ ba Người sống lại với “xác vinh hiển” (Pl 3,21) để sống vĩnh cửu không bao giờ chết nữa.

  • Sự sống lại của ta là gì? Khi ta chết, hồn lìa xác, xác bị hư nát, hồn gặp Chúa Kitô để được xét xử và nhận thưởng phạt, rồi đến ngày sau hết hồn được hiệp nhất với xác đã được biến đổi do quyền năng phục sinh của Chúa Kitô.
  • Ai sẽ sống lại? Tất cả những ai đã chết, tuy nhiên không phải tất cả được vào Nước Trời, vì “ai đã làm điều lành thì sẽ sống lại để được sống, ai đã làm điều dữ thì sẽ sống lại để bị kết án” (Ga 5,29).
  • Sống lại như thế nào? Sống lại với xác riêng của mình nhưng được biến đổi thành “xác có thần khí” (1Cr 14,44) không hư nát. Còn chuyện sống lại bằng cách nào thì vượt quá trí tưởng tượng và hiểu biết của ta.
  • Sống lại khi nào? Sống lại vào ngày sau hết, ngày tận thế. Ngày Chúa Kitô quang lâm (1Tx 4,16).

Vì thế, ta phải tôn trọng thân xác của mình cũng như của tất cả mọi người, đặc biệt những người đau khổ. Nghi thức an táng Kitô giáo chứng tỏ niềm tin về thân xác sẽ sống lại.

III. Phán xét riêng.

Chúa Kitô là Ðấng cứu độ nên Chúa Cha trao cho Người quyền xét xử để thưởng phạt mọi người. Tân Ước nói đến việc thưởng phạt ngay sau khi con người chết, dựa vào dụ ngôn “người giàu và anh nghèo Ladarô” (x. Lc 16,22) và dựa vào lời Ðức Giêsu nói với người trộm lành (x. Lc 23,43). Ngay sau khi chết, mỗi người được phán xét riêng tùy theo việc họ sống hiệp thông với Chúa Kitô, để hiệp thông với Thiên Chúa, với mọi người và vũ trụ vạn vật. Họ sẽ được thưởng hay chịu phạt; hoặc là chịu thanh luyện , hoặc được hưởng hạnh phúc Nước Trời, hoặc chịu phạt đời đời.

IV. Trời hay Thiên Ðàng.

Những người đã chết trong ơn nghĩa Chúa và được thanh luyện toàn hảo thì được ở với Chúa Kitô muôn đời, nghĩa là được vào Nước Trời hay Thiên Ðàng. Trời không phải ở bên trên tầng xanh nhưng là một tình trạng, “một cuộc sống hiệp thông trong sự sống và tình yêu với Thiên Chúa Ba Ngôi, với Ðức Trinh Nữ Maria, các Thiên Thần, và tất cả mọi người lành thánh”. Ðó là cùng đích tối hậu, là sự hoàn thành mọi khát vọng sâu xa nhất của con người, là tình trạng hạnh phúc tuyệt vời và dứt khoát. Sự hiệp thông trong hạnh phúc với Thiên Chúa, trong Chúa Kitô, với mọi người lành và toàn thể tạo thành là một mầu nhiệm mà thánh Phaolô diễn tả là “mắt chưa thể thấy, tai chưa hề nghe, lòng người chưa hề nghĩ tới” 1Cr 2,9). Kinh thánh tìm cách diễn tả bằng những hình ảnh như: sự sống, ánh sáng, hòa bình, tiệc cưới, rượu trong Nước Trời, nhà của Chúa Cha, Giêrusalem trên trời….

V. Luyện ngục.

Những người đã chết trong ơn nghĩa Chúa thì chắc chắn đã được cứu độ, nhưng nếu chưa được thanh luyện hoàn hảo thì phải được thanh luyện cho thật tinh tuyền. Hội Thánh quen gọi là thanh luyện nơi luyện ngục. Thực ra luyện ngục không phải là một nơi nào, nhưng là một tình trạng hồn phải thanh luyện. Giáo lý này dựa vào truyền thống thời Cựu Ước quen cầu nguyện cho những người đã chết (x. 2Mcb 12,46). Và ngay từ thời đầu, Hội Thánh đã quen kính nhớ người chết, đặc biệt là trong thánh lễ, để chuyển cầu cho họ. Hội Thánh còn khuyên ta bố thí, lãnh ân xá, và làm các việc hãm mình đền tội giúp cho họ sớm được vào Nước Trời.

VI. Hỏa ngục.

Những ai đã hoàn toàn cố tình không muốn hiệp thông với Chúa Kitô, là đã tự loại mình ra khỏi hiệp thông với Thiên Chúa và với mọi người làm thánh. đó là những người cố tình phạm tội nặng, xúc phạm đến Thiên Chúa, đến mọi người khác, đến vũ trụ vạn vật, mà không chút ăn năn hối cải, sau khi chết họ phải ở trong hỏa ngục đời đời. Ðức Giêsu đã nhiều lần nhắc nhở tới hỏa ngục (x. Mt 5,22-29) đến “lửa không hề tắt” (Mt 3,12) đến nơi “khóc lóc nghiến răng” (Mt 13,42). Thực ra hỏa ngục không phải một nơi nào, mà là tình trạng con người luôn cảm nghiệm phải xa cách Thiên Chúa, là sự sống và hạnh phúc mà mình hằng khao khát, xa cách muôn trùng và muôn đời. Thiên Chúa không tiền định cho ai phải vào hỏa ngục (x. DS 397). Người luôn tôn trọng tự do mỗi người. chính mỗi người quyết định số phận vĩnh cửu của mình, nên Hội Thánh mời gọi mỗi người phải sử dụng tự do của mình với tinh thần trách nhiệm thật cao.

VII. Phán xét chung.

Ðến ngày sau hết tất cả mọi người chết sẽ sống lại “người lành cũng như người dữ” (Cv 24,15). Chúa Kitô sẽ đến trong vinh quang có các Thiên Thần hộ tống để xét xử công khai mỗi người trước tất cả mọi dân mọi nước (x. Mt 25, 32-46). Người là Sự Thật nên sẽ làm cho toàn bộ sự thật về mối liên hệ của mỗi người với Thiên Chúa được phơi trần ra, cùng với mọi hậu quả tốt xấu của nó. Người sẽ cho ta hiểu biết ý nghĩa tối hậu của công trình sáng tạo và kế hoạch cứu độ, hiểu biết những đường lối k?iệu mà Thiên Chúa quan phòng đã dùng để dẫn đưa mọi sự tới đích tối hậu. Phán xét chung sẽ mặc khải cho biết sự công chính của Thiên Chúa toàn thắng những bất công do thụ tạo của Người đã phạm, và tình yêu của Người mạnh hơn sự chết.

VIII. Trời Mới Ðất Mới.

Ðến thời sau hết, Nước Trời sẽ đạt tới mức toàn hảo, toàn thể nhân loại và vũ trụ được biến đổi thành “Trời mới đất mới” (2Pr 3,13). Ðối với con người, sự hiệp thông giữa con người với Thiên Chúa, với nhau và với vũ trụ vạn vật mà Thiên Chúa đã muốn từ khi tạo dựng, và Hội Thánh lữ hành là dấu chỉ và dụng cụ, sự hiệp thông đó nhờ Chúa Kitô sẽ đạt tới toàn hảo viên mãn “không còn chết chóc, khóc lóc, đau khổ nữa” (Kh 21,4) mà chỉ còn hiệp thông trong hạnh phúc và bình an vĩnh cửu. Còn vũ trụ vạn vật cũng được chung hưởng một số phận với những con người công chính, nghĩa là cũng đạt tới cùng đích toàn hảo viên mãn nhờ Chúa Kitô, không còn bị ô nhiễm, bị sử dụng vào chuyện xấu, “không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, mà được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang” (Rm 8,21).

IX. Hạnh phúc Vĩnh cửu và Kitô hữu hôm nay.

Người Việt Nam nào cũng mong được hạnh phúc, thích làm phúc, và muốn thoát khỏi vô phúc, cũng như tất cả mọi người ai cũng khao khát hạnh phúc. Chúa Kitô đã đến loan báo và bảo đảm về hạnh phúc thật, hạnh phúc ấy chỉ có trong Nước Trời. Và Nước Trời đây chính là sự hiệp thông giữa con người với Thiên Chúa Ba Ngôi, với nhau và với vũ trụ vạn vật trong tình yêu, hạnh phúc viên mãn và vĩnh cửu. Vì thế, Kitô hữu hôm nay cần quan tâm đến mấy điểm cụ thể sau đây:

1. Hạnh phúc đích thực và vĩnh cửu không thể có ở đời này.

Vì con người mang khát vọng tuyệt đối, nên không có gì ở đời này có thể lắp đầy, không người nào và tập thể xã hội nào có thể mang lại hạnh phúc vĩnh cửu cho tất cả mọi người. Trái lại, chỉ một mình Chúa Kitô có thể thỏa mãn được khát vọng sâu sắc nhất của con người, vì chính Người đã chia sẻ thân phận con người, đã chết và sống lại, bước vào hạnh phúc vĩnh cửu trong Nước Trời. Người là khởi đầu và bảo đảm chắc chắn rằng có hạnh phúc đích thực vĩnh cửu trong Nước Trời.

2. Hạnh phúc đích thực và vĩnh cửu không phải là ảo tưởng

Nhằm ru ngủ hay lừa dối con người sống tiêu cực thụ động, nhưng là một sự thật được Chúa Kitô mạc khải và thể hiện bằng chính cuộc sống của Người. Sự thật này không được làm suy giảm mối quan tâm của Kitô hữu để phát triển trái đất này, trái lại nó phải khơi dậy và kích thích mối quan tâm đó để họ làm cho các tiến bộ trần thế thực sự góp phần vào việc tổ chức xã hội loài người tốt đẹp hơn (x. MV 39).

3. Hạnh phúc đích thực và vĩnh cửu tùy thuộc vào Amen của Kitô hữu.

Kinh Tin Kính kết thúc bằng Amen. Trong tiếng Do thái “Amen” có cùng một gốc với “tin”, và gốc này có nghĩa là chắc chắn, có thật trung tín. Tôi tin là tôi Amen đối với mọi lời nói, lời hứa, và mọi điều răn của Thiên Chúa. Tôi tin chắc chắn vì Thiên Chúa là Amen (x.Is 65,16). Ðấng trung tín, đáng tin cậy. Thiên Chúa lại biểu hiệu sự trung tín ấy nơi Con của Người là Chúa Kitô, nên Chúa Kitô cũng là Ðấng Amen (x. Kh 3,14), là sự thật chắc chắn. Và Chúa Kitô đã dạy: “Tất cả những ai thấy Người Con, và tin vào Người Con thì được sống muôn đời, và Tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết” (Ga ,40). Vì thế, Hội Thánh quen kết thúc mọi kinh nguyện bằng Amen, để biểu lộ và tuyên xưng niềm tin. Kitô hữu sống theo điều mình Amen là bảo đảm chắc chắn được hạnh phúc đích thực và vĩnh cửu.

Thứ 6 ngày 30/4 là ngày chuẩn bị bước vào

Tháng Hoa dâng kính Đức Mẹ. Chúng ta chuẩn bị tâm hồn mừng kính Mẹ

TÌM HIỂU GỐC TÍCH THÁNG HOA ĐỨC MẸ (xin click vào link để đọc bài viết, hoặc vào http://www.giaoducconggiao.net)

và bài học ngày 30/4 là bài

ÐỨC MARIA LÀ MẸ HỘI THÁNH

(x. SLGC từ 0963 đến 0972)

Xem ảnh với kích cỡ đầy đủ

“Vì đã cưu mang, sinh hạ và nuôi dưỡng Chúa Kitô, đã dâng Chúa Kitô lên Chúa Cha trong đền thánh, và cũng đau khổ với Con mình chết trên thập giá, Ðức Maria đã cộng tác cách rất đặc biệt vào công trình của Ðấng Cứu Thế, nhờ lòng vâng phục, nhờ đức tin, đức cậy và đức ái nồng nhiệt, để tái lập sự sống siêu nhiên cho các linh hồn. Bởi vậy, trên bình diện ân sủng. Ngài thật là Mẹ chúng ta” (GH 61) Thiên Chúa nhân hậu và khôn ngoan khi muốn thực hiện công việc cứu chuộc thế giới vào thời cuối cùng, “đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà” (Gl 4,4), và Người Con đó “đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Maria” (Kinh Tin Kính). Công việc cứu chuộc vẫn tiếp tục trong Hội Thánh, là thân thể Chúa Kitô. Trong thân thể này, Ðức Maria có mặt như một chi thể trổi vượt, liên kết mật thiết với Ðầu, và hằng yêu thương, bảo vệ hướng dẫn các chi thể khác là các tín hữu, với lòng của người mẹ hiền.

I. Ðức Maria là mẹ Hội Thánh.

1. “Khi sứ thần truyền tin, Ðức Trinh Nữ Maria đã đón nhận Ngôi Lời Thiên Chúa trong tâm hồn và thân xác, và đem Sự Sống đến cho Thế gian” (GH 53). “Như thế, Ðức Maria, con cháu Ađam, vì chấp nhận lời Thiên Chúa, đã trở nên Mẹ Ðức Giêsu” (id 56). Mẹ đã liên kết mật thiết với Con từ lúc thưa tiếng “Xin Vâng” trong ngày truyền tin, kéo dài đến lúc Chúa Kitô chết trên thập giá. “Như thế, Ðức Trinh Nữ cũng đã tiến bước trong cuộc lữ hành đức tin, trung thành hiệp nhất với Con cho đến bên thập giá, là nơi mà theo ý Thiên Chúa, Ngài đã từng ở đó” (Ga 19,25). Ðức Maria đã đau đớn chịu khổ cực với Con Một của mình và dự phần vào hy lễ của Con, với tấm lòng của một người mẹ hết tình ưng thuận hiến tế hy vật do lòng mình sinh ra. Và cuối cùng chính Ðức Giêsu Kitô khi hấp hối trên thập giá, đã trối Ngài làm mẹ của môn đệ qua lời này: Thưa bà, này là con Bà” (Ga 19,36-27; GH 58).

Sau khi Ðức Giêsu lên trời, Ðức Maria đã ở giữa các Tông đồ, như người Mẹ “giữa một đàn em đông đúc” của Ðức Giêsu (Rm 8,29), Con của Mẹ. Người cùng cầu nguyện với Hội Thánh sơ khai: “Tất cả các ông đều đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện cùng với mấy người phụ nữ, với bà Maria thân mẫu Ðức Giêsu, và với anh em của Ðức Giêsu” (Cv 1,14). Hơn nữa: “Ðức Maria cũng tha thiết cầu xin Thiên Chúa ban Thánh Thần, là Ðấng đã bao phủ lấy Người trong ngày Truyền Tin” (GH 59), và “ai nấy được tràn đầy ơn Thánh Thần” (Cv 2-4) trong ngày lễ Ngũ Tuần. Sau cuộc đời trần thế, Ðức Maria đã được đưa lên trời cả hồn lẫn xác để hưởng vinh quang thiên quốc. Mẹ là người đầu tiên được tham dự vào cuộc Phục Sinh của Con Mẹ, và như vậy Mẹ là dấu chỉ báo trước và bảo đảm cho các Kitô hữu được sống lại với Chúa Kitô.

2. Hội Thánh chào kính Ðức Maria như chi thể cao cả nhất, có một không hai và như gương mẫu sáng ngời về niềm tin và lòng mến (GH 53). Là mẹ Chúa Kitô, Ðức Maria còn “là Mẹ các chi thể (của Thân thể Chúa Kitô), vì đã cộng tác trong đức ái để sinh ra các tín hữu trong Hội Thánh là những chi thể của Ðầu ấy” (GH 53). Mẹ đã cộng tác đặc biệt với Ðấng Cứu Thế “để đem lại sự sống siêu nhiên cho các linh hồn”. Và mẹ luôn tiếp tục thiên chức làm mẹ “cho tới lúc vĩnh viễn hoàn tất việc cứu rỗi mọi người được tuyển chọn” (GH 623). Như vậy, ở trên trời Mẹ Maria không ngừng cộng tác vào chương trình cứu độ, bằng việc cầu bầu và chăm sóc các tín hữu “cho đến khi họ đạt tới hạnh phúc quê trời” (GH 62).

II. Việc tôn kính Ðức Trinh Nữ Maria.

Ngay từ những thế kỷ đầu của Kitô giáo, Ðức Trinh Nữ Maria đã được tôn kính với Tước Hiệu “Mẹ Thiên Chúa”, và các tín hữu thường chạy đến với Mẹ “trong cơn gian nan thiếu thốn” (Kinh Trông Cậy). Hội Thánh luôn dành cho Ðức Maria lòng yêu mến và tôn kính rất đặc biệt, vượt trên các thiên thần và các thánh. “Từ nay hết mọi đời, sẽ khen tôi diễm phúc, Ðấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả” (Lc 1, 48-49).

Việc tôn kính này hoàn toàn khác biệt với sự thờ phượng phải có đối với Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, nhưng lại “khuyến khích thêm việc thờ phượng Thiên Chúa Ba Ngôi” (GH 66). Bởi vì, Mẹ Maria chẳng có sứ mệnh nào khác hơn là dẫn đưa chúng ta tới Ðức Giêsu Kitô Con của Mẹ. Vì thế “Hội Thánh khuyến khích hết mọi con cái hãy nhiệt tâm phát huy lòng sùng kính Ðức Nữ Trinh nhất là trong Phụng Vụ”, một lòng sùng kính không dựa trên tình cảm hay tính dễ tin “nhưng phát sinh từ một đức tin chân thật… thúc đẩy chúng ta lấy tình con thảo yêu mến và noi gương các nhân đức của Mẹ chúng ta” (GH 67). Lòng tôn kính và yêu mến này, chúng ta bày tỏ trong những ngày lễ kính Mẹ (nhất là lễ Ðức Mẹ hồn xác lên trời ngày 15 tháng 8 và lễ Ðức Mẹ Vô Nhiễm ngày 8 tháng 12) các ngày thứ bảy, và đặc biệt là lần hạt Mân Côi, là Kinh “tóm tắt Phúc Âm” để suy niệm về cuộc đời Ðức Giêsu cùng với Mẹ Maria.

III. Ðức Maria, hình ảnh Hội Thánh phải hoàn thành.

“Như Thánh Ambrosiô đã dạy, Mẹ Thiên Chúa là mẫu mực của Hội Thánh trên bình diện đức tin, đức ái và hiệp nhất hoàn hảo với Chúa Kitô” (GH 63). Thật vậy, Mẹ Maria là hình ảnh của Hội Thánh tại thế “Hội Thánh vì ôm ấp những kẻ có tội trong lòng” (GH.8) hướng nhìn lên Ðức Mẹ Vô Nhiễm nguyên tội, một phần tử ưu tú của mình, đã chiến thắng tội lỗi, nhờ hồng ân Chúa Kitô. Vì thế, Hội Thánh luôn luôn kiên trì và tin tưởng trong hành trình đức tin trên trần gian. Hơn nữa Hội Thánh còn ngắm nhìn Ðức Maria như mẫu mực hoàn hảo mà mình phải đạt tới, để trở thành “một Hội Thánh xinh đẹp lộng lẫy, không tì ố;, không vết nhăn, hoặc bất cứ một khuyết điểm nào, nhưng thánh thiện và tinh tuyền” (Ep 5,27). “Sẵn sàng như tân nương trang điểm để đón tân lang” (Kh 21,2). Do đó, Hội Thánh luôn hướng nhìn lên Ðức Mẹ hồn xác lên trời, như phần tử đầu tiên vượt thắng cái chết mà sống lại trong vinh quang. Mẹ được Thiên Chúa tôn vinh trên trời, là dấu chỉ báo trước và đảm bảo ơn cứu độ vinh quang cho tất cả các phần tử khác của Hội Thánh. “Ngày nay, trên trời Mẹ Ðức Giêsu đã được vinh hiển cả hồn và xác, là hình ảnh và khởi thủy của Hội Thánh phải hoàn thành đời sau; đồng thời, dưới đất này, cho tới ngày Chúa đến (2Pr. 3,10). Ngài chiếu sáng như dấu chỉ lòng cậy trông vững vàng và niềm an ủi cho dân Chúa đang lữ hành” (GH 68).

Bài học ngày thứ sáu 23/04/2010: TÔI TIN PHÉP THA TỘI

(bài 19 sách giáo lý Hành Trình Đức Tin, xin các em đọc bài trước)

Bài học ngày thứ sáu 16/04/2010: TÔI TIN HỘI THÁNH CÔNG GIÁO

(bài 18 sách giáo lý Hành Trình Đức Tin, xin các em đọc bài trước)

Tin vui lớn lao cho Hội Thánh Việt Nam

Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt, Tổng Giám Mục Hà nội đã về đến nhà bình an, chấm dứt mọi lời đồn thổi và những phỏng đoán. Chúng ta cùng vui mừng tạ ơn Chúa. Alleluia.

Thứ 6 ngày 26/3/2010 các em nghỉ học giáo lý, tham dự tĩnh tâm.

Thứ 6 ngày 02/04/2010 là thứ Sáu Tuần Thánh, các lờp giáo lý nghỉ học.

CHÚC CÁC EM TUẦN THÁNH SỐT SẮNG VÀ MÙA PHỤC SINH BÌNH AN, ĐẦY ƠN CHÚA.

HÀNH TRÌNH ĐỨC TIN, CÁC BÀI HỌC

Xin Chúa thương chúc lành cho cuộc hành trình của anh chị em chúng con.

Bài học ngày thứ sáu 09/04/2010: GIÁO LUẬT VỀ BÍ TÍCH HÔN PHỐI

Bài tóm tắt (xin đọc toàn bài trong mục Giáo Lý Hôn Nhân)

GHI NHỚ :

1. H. Để Bí tích Hôn phối thành sự phải có những điều kiện nào?

T. Phải có bốn điều kiện này:

– Một là một nam một nữ đã rửa tội.

– Hai là có tự do kết hôn, không bị ép buộc cũng không bị ngăn trở bởi luật tự nhiên hoặc luật Hội Thánh

– Ba là phải bày tỏ sự ưng thuận kết hôn.

– Bốn là cử hành theo thể thức của Hội Thánh.

2. H. Ngăn trở hôn phối là gì?

T. Ngăn trở hôn phối là những hoàn cảnh hoặc trường hợp làm cho cuộc phôn phối không thành sự hoặc bất hợp pháp.

3. H. Có bao nhiêu ngăn trở hôn phối?

T. Có 12 ngăn trở sau đây:

– Một là chưa đủ tuổi kết hôn

– Hai là bất lực, không thể sinh hoạt vợ chồng.

– Ba là còn bị ràng buộc bởi hôn phối trước.

– Bốn là khác tôn giáo.

– Năm là chức thánh.

– Sáu là khấn dòng.

– Bảy là bắt cóc.

– Tám là tội mưu sát phối ngẫu.

– Chín là có họ máu.

– Mười là có họ kết bạn.

– Mười một là công hạnh.

– Mười hai là pháp tộc.

4. H. Khi mắc ngăn trở thì phải làm gì?

T. Phải xin phép chuẩn. Tuy nhiên, có những ngăn trở Hội Thánh cũng không thể miễn chuẩn được, đó là các trường hợp:

– Một là bất lực,

– Hai là còn bị ràng buộc bởi hôn phối trước.

– Ba là có họ máu theo hàng dọc.

– Bốn là có họ máu hai bậc theo hàng ngang.

5. H. Vì sao sự ưng thuận kết hôn là yếu tố cần thiết làm nên hôn nhân?

T. Vì sự ưng thuận này nối kết hai vợ chồng lại với nhau và được thể hiện trọn vẹn khi hai người “trở nên một xương một thịt”. Không một quyền hành nào của loài người có thể thay thế sự ưng thuận này. Thiếu sự tự do này, cuộc hôn nhân sẽ không thành.

6. H. Những trường hợp nào thiếu sự tự do ưng thuận kết hôn?

T. Những trường hợp sau đây:

– Một là không có đủ trí khôn.

– Hai là thiếu trầm trọng trí phán đoán về những quyền lợi và nghĩa vụ chính yếu của hôn nhân.

– Ba là vì tâm thần không thể đảm nhận những nghĩa vụ chính yếu của hôn nhân.

– Bốn là vô tri, không biết hôn nhân là gì.

– Năm là lầm lẫn về người, hoặc về phẩm cách của người phối ngẫu.

– Sáu là lường gạt.

– Bảy là giả vờ ưng thuận, nhưng thực sự không muốn.

– Tám là ưng thuận với điều kiện về tương lai.

– Chín là ưng thuận vì bạo lực hoặc vì sợ hãi.

4 GỢI Ý SUY NGHĨ :

1. Vì sao Hội Thánh lại có những điều luật về Hôn nhân? Đâu là mục đích của những điều luật đó?

2. Vì sao trong việc lập gia đình, Hội Thánh nhấn mạnh khía cạnh tự do ưng thuận?

3. Phải chăng Hội Thánh có thể miễn chuẩn mọi ngăn trở hôn phối? Tại sao?

4 CẦU NGUYỆN :

Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa, vì Chúa hằng yêu thương chúng con. Xưa kia Chúa đã ban lề luật cho dân Israel, để giúp họ sống trung thành với giao ước, xứng đáng là dân Chúa. Chúa đã mời gọi chúng con bước vào đời sống hôn nhân và gia đình, để làm chứng cho tình yêu của Chúa, và Chúa đã ban cho chúng con Hội Thánh, để hướng dẫn chúng con. Xin giúp chúng con biết nghe theo lời giáo huấn của Hội Thánh, để cùng nhau xây dựng một gia đình hạnh phúc như ý Chúa muốn. Amen.

THÁNG 3, ĐẶC BIỆT NGÀY 19/3, HỘI THÁNH KÍNH THÁNH CẢ GIUSE,

BẠN ĐỨC TRINH NỮ MARIA, CHA NUÔI CHÚA CỨU THẾ,

ĐẤNG QUAN THẦY CỦA HỘI THÁNH

KÍNH MỪNG BỔN MẠNG CHA CHÁNH XỨ

VÀ CHÚC MỪNG CÁC EM CÓ THÁNH BỔN MẠNG GIUSE.

“Xưa nay không ai kêu cầu Cha điều gì mà vô hiệu”

(Kinh Khấn Thánh Giuse)

Xin click vào đây đọc bài về Tháng Kính Thánh Cả Giuse

Website www.giaoducconggiao.net khai trương ngày Lễ Thánh Giuse, các em click vào và đọc!

Lưu ý: Sáng thứ 6 (19/3), các em nghỉ học giáo lý, đi lễ kính Thánh Giuse. Ngày 26/3 chúng ta học bài “Tôi Tin Hội Thánh Công Giáo” 

Anh Vinh

Bài học ngày thứ sáu 12/03/2010: HÔN NHÂN CÔNG GIÁO

Bài tóm tắt (xin đọc toàn bài trong mục Giáo Lý Hôn Nhân)

GHI NHỚ :

1. H. Hôn nhân Công giáo là gì?

T. Hôn nhân Công giáo là bí tích Chúa Giêsu đã lập, để kết hợp hai người tín hữu, một nam một nữ, thành vợ chồng trước mặt Thiên Chúa và Hội Thánh, cùng ban ơn giúp họ sống xứng đáng ơn gọi của mình.

2. H. Hôn nhân Công giáo có những đặc tính nào?

T. Hôn nhân Công giáo có hai đặc tính này:

– Một là đơn nhất, nghĩa là một vợ một chồng.

– Hai là bất khả phân ly, nghĩa là trung thành yêu thương nhau trọn đời.

3. H. Bí tích Hôn phối ban cho vợ chồng những ơn nào?

T. Bí tích Hôn phối ban ơn giúp các đôi vợ chồng yêu thương nhau, như Đức Kitô đã yêu thương Hội Thánh, kiện toàn tình yêu tự nhiên, củng cố sự hiệp nhất bất khả phân ly và thánh hoá họ trong đời sống siêu nhiên.

GỢI Ý SUY NGHĨ :

1. Khi nhìn vào tình yêu Đức Kitô dành cho Hội Thánh, anh chị học được điều gì cho tình yêu của anh chị?

2. Trung thành với nhau đến chết phải chăng là một thách đố?

3. Ân sủng bí tích Hôn phối mang lại điều gì cho đời sống hôn nhân?

CẦU NGUYỆN :

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã yêu thương Hội Thánh đến độ đã hiến mình vì Hội Thánh để Hội Thánh được xinh đẹp lộng lẫy, thánh thiện tinh tuyền. Chúng con đang đứng trước ngưỡng cửa ơn gọi hôn nhân và gia đình, xin cho chúng con biết đến với Chúa, lắng nghe Lời Chúa, nhìn ngắm mẫu gương của Chúa, để học biết yêu thương như Chúa. Xin đổ Thánh Thần Tình yêu của Chúa xuống trên chúng con để chúng con có đủ can đảm bước theo con đường Chúa đang mời gọi chúng con. Amen.

Bài học ngày thứ sáu 05/03/2010: ƠN GỌI HÔN NHÂN TRONG CHƯƠNG TRÌNH CỦA THIÊN CHÚA

Bài tóm tắt (xin đọc toàn bài trong mục Giáo Lý Hôn Nhân)

GHI NHỚ :

1. H. Hôn nhân là gì?

T. Hôn nhân là giao ước ký kết giữa một người nam và một người nữ, với đầy đủ tự do ưng thuận và ý thức trách nhiệm, để trở thành vợ chồng.

2. H. Ai đã lập nên hôn nhân?

T. Chính Thiên Chúa đã lập nên hôn nhân khi dựng nên loài người có nam có nữ, và mời gọi họ sống yêu thương.

3. H. Yếu tố căn bản của hôn nhân là gì?

T. Yếu tố căn bản của hôn nhân chính là tình yêu vì Hôn nhân được thiết lập do tình yêu và mục đích cuối cùng của Hôn nhân cũng chính là tình yêu.

4. H. Hôn nhân có những mục đích nào?

T. Hôn nhân có hai mục đích này:

– Một là yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau.

– Hai là cộng tác với Thiên Chúa trong việc sinh sản và giáo dục con cái.

GỢI Ý SUY NGHĨ :

1. Tình yêu có gì khác với sự thu hút giữa nam và nữ?

2. Tình yêu cần thiết cho hôn nhân như thế nào?

3. Có thể lấy một người đồng thời lại yêu một người khác được không? Tại sao?

CẦU NGUYỆN :

Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa vì đã cho chúng con sinh ra làm người nam, người nữ, mang hình ảnh của Chúa. Chúa còn ban tặng cho từng người chúng con một trái tim muốn yêu và khao khát được yêu để chúng con có thể yêu Chúa và yêu nhau.

Xin dạy chúng con biết yêu thương như Chúa đã yêu thương chúng con để chúng con ngày càng trở nên giống hình ảnh Chúa là Tình yêu. Amen.

CN 2 CHAY.C

(Click vào link CN 2 CHAY.C ở trên để tải xuống, bấm F5 để đọc Tin Mừng CN thứ 2 Mùa Chay, file powerpoint)

Bài 14. BÀI ÔN VỀ CHÚA THÁNH THẦN

Có 20 câu hỏi ôn về Chúa Thánh Thần, xin các em đọc và chuẩn bị cho bài học ngày 26/02/2010

  1. Trong kinh Tin Kính Công Đồng Constantinople (đọc ngày Chúa Nhật), chúng ta tuyên xưng về Chúa Thánh Thần như thế nào?
  2. “Người bởi Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con mà ra” nghĩa là gì? Hãy giải thích.
  3. Chúa Thánh Thần hoạt động thế nào trong Cựu Ước?
  4. Chúa Thánh Thần hoạt động thế nào nơi Đức Maria?
  5. Chúa Thánh Thần trong cuộc đời Đức Chúa Giêsu.
  6. Các danh xưng của Chúa Thánh Thần.
  7. Hãy cho biết những biểu tượng của Chúa Thánh Thần.
  8. Ngày Lễ Ngũ Tuần là gì? Hãy kể lại việc Chúa Thánh Thần hiện xuống.
  9. Chúa Thánh Thần làm gì trong các giáo đoàn tiên khởi?
  10. Chúa Thánh Thần hoạt động thế nào trong Hội Thánh?
  11. Chúa Thánh Thần hoạt động thế nào trong cuộc đời chúng ta?
  12. Chúa Thánh Thần hoạt động thế nào trong thế giới?
  13. Chúa Giêsu lập Bí Tích Thêm Sức lúc nào? Hãy nói ý nghĩa Bí tích Thêm Sức.
  14. Hãy kể bảy ơn Đức Chúa Thánh Thần.
  15. Hãy định nghĩa “ân sủng”, “thánh sủng”, “thường sủng”, “hiện sủng”, “đoàn sủng”.
  16. Hãy giải thích “Chúa Thánh Thần hoàn tất Nước Thiên Chúa”.
  17. Chúng ta nhờ vào đâu mà nhận ra Chúa Thánh Thần?
  18. Tội phạm đến Chúa Thánh Thần là tội nào? Chúa Giêsu nói gì về tội này?
  19. Chúng ta phải sống theo Chúa Thánh Thần như thế nào?
  20. “Thiên Chúa là tình yêu” là Lời Chúa trong Kinh Thánh. Hãy cho biết Lời ấy trích ở đâu và ý nghĩa là gì?

Tết Canh Dần

CHÚC CÁC EM NĂM MỚI BÌNH AN VÀ ĐẦY ƠN CHÚA

xin click và chọn mở xem: 12_strikes_at_midnight

Các em nghỉ Tết 2 tuần.  Lớp Hành Trình Đức Tin sẽ học lại vào thứ sáu 26 tháng 02 năm 2010. Chúc các em và gia đình Tết vui tươi bình an và năm mới đầy ơn Chúa.

Anh J.Vinh

Ghi chú: Ngày học đầu năm mới các em vui lòng dậy sớm, đến lớp đúng 5g sáng. Nhóm 2 (nhóm của Xuân Hương và Bích Duyên cũ ghép lại) phụ trách cầu nguyện và trực. Cám ơn các em.

Bài 13-CHÚA THÁNH THẦN

“Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Ðấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Ðó là Thần Khí sự thật, Ðấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em” (Ga 14:16-17). “Khi công trình Chúa Cha trao phó cho Chúa Con thực hiện trên trần gian đã hoàn tất (x.Ga 17:4) Chúa Thánh Thần được sai đến trong ngày lễ Ngũ Tuần để thánh hóa Giáo Hội mãi mãi, và như thế những ai tin sẽ được tới cùng Chúa Cha qua Chúa Kitô trong Thánh Thần duy nhất (x.Ep 2:18).

Click đọc bài…

Bài 12-CHÚA GIÊSU SẼ ĐẾN PHÁN XÉT

“Hỡi những người Galilê sao còn đứng nhìn lên trời ? Ðức Giêsu, Ðấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời”. (Cv 1,11).

Click đọc bài…

Bài 11-CHÚA GIÊSU SỐNG LẠI VÀ LÊN TRỜI

“Chúng tôi xin loan báo cho anh em Tin Mừng nầy: điều Thiên Chúa hứa với cha ông chúng ta, thì Người đã thực hiện cho chúng ta là con cháu các ngài, khi làm cho Ðức Giêsu sống lại” (Cv […]

Click đọc bài…

Bài 10-CUỘC KHỔ NẠN CỦA CHÚA GIÊSU

“Từ lúc đó, Ðức Giêsu Kitô bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết: Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại […]

Click đọc bài…

Bài 9-CUỘC SỐNG TRẦN THẾ CỦA ÐỨC GIÊSU

“Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14). “Ðây là Chiên Thiên Chúa, đây Ðấng xóa bỏ tội trần gian” (Ga 1,29).
Kinh Tin Kính chỉ nói đến những mầu nhiệm, liên quan đến đời sống Chúa Kitô […]

Click đọc bài

Bài 8-CON THIÊN CHÚA LÀM NGƯỜI

“Khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà, và sống dưới Lề Luật để chuộc những ai sống dưới lề luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử” (Gl 4,4-5).

Click đọc bài

Bài 7- “Tôi tin kính Ðức Giê-su Ki-tô, là Con Một Ðức Chúa Cha, cùng là Chúa chúng tôi”

“Tôi tin kính Ðức Giê-su Ki-tô, là Con Một Ðức Chúa Cha, cùng là Chúa chúng tôi”
(sách Giáo Lý Công Giáo tóm lược)
452  Danh xưng “Giê-su” có nghĩa là “Thiên Chúa Cứu Ðộ”. Hài nhi sinh làm con Ðức Trinh Nữ Ma-ri-a được gọi là ” Giê-su”, “vì chính Người sẽ cứu thoát Dân […]

Click đọc bài…

Bài 6- MỘT THIÊN CHÚA LÀ CHA TOÀN NĂNG, ĐẤNG TẠO THÀNH TRỜI ĐẤT, MUÔN VẬT HỮU HÌNH VÀ VÔ HÌNH

PHẦN 1: THIÊN CHÚA LÀ CHA TOÀN NĂNG
I. THIÊN CHÚA LÀ CHA

Thiên Chúa là Cha nghĩa là gì? Nền tảng Kinh Thánh Cựu Ước của mầu nhiệm này.
Ý nghĩa danh xưng Thiên Chúa như […]

Click đọc bài…

Bài 5. KINH TIN KÍNH – bài học

Đôi lời: Lần này mời các em đọc bài viết về Kinh Tin Kính do Soeur Jean Berchmans Minh Nguyệt viết và nhớ trả lời các câu hỏi chuẩn bị.  Xin lưu ý là sắp tới chúng ta sẽ tổ chức một buổi thi đố vui về các bài đã chia sẻ từ đầu, liên quan […]

Click đọc bài

Bài 5-KINH TIN KÍNH-CÂU HỎI CHUẨN BỊ

Câu hỏi chuẩn bị

Lời tuyên tín đầu tiên với Đức Giêsu Kytô là lời nào? Ý nghĩa lời tuyên xưng đức Tin ấy?
Hãy kể những công thức tuyên xưng đức Tin mà bạn biết. Bạn tuyên xưng như thế nào?
Có mấy kinh Tin Kính? Đó là những kinh nào? […]

Click đọc bài…

Bài 4. THÁNH KINH VÀ THÁNH TRUYỀN

1. Mạc khải là gì?
Mạc khải là việc Thiên Chúa tỏ mình ra cho nhân loại vì lòng yêu thương của Ngài. Đức Thánh Cha Benedicto XVI tóm tắt sự hiểu biết Kinh Thánh và Thánh Truyền của Giáo Hội như sau: “Sách Thánh là Lời Chúa trong đó được viết ra dưới sự linh hứng […]

Click đọc bài…

Bài 3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỨC TIN

Bạn đã từng đi đây đi đó. Đi thì hay đặt câu hỏi, và cũng nghe người ta hỏi mình. Trên hành trình Đức Tin, chúng ta cũng thắc mắc, cũng đặt vấn đề và cũng nghe người đời thắc mắc, thậm chí chê trách. Chỉ có ơn Chúa mới giúp chúng ta vững vàng […]

Click đọc bài…

Bài 2. ĐỨC TIN KHÔNG PHẢI LÀ MÊ TÍN

I. Ý NGHĨA ĐỨC TIN
Trong bài 1, chúng ta đã nhắc «Đức Tin là thái độ con người đón nhận và đáp ứng lời mời gọi của Thiên Chúa, Đấng vì yêu thương đã có sáng kiến mạc khải chính mình cho họ (x. Hiến chế Mạc Khải, 2). Tin là gắn bó […]

Click đọc bài…

Bài 1. HÀNH TRÌNH ĐỨC TIN

Như tia nắng mai sưởi ấm tâm hồn

Như lời mời đi vào tiệc cưới
Như một tiếng gọi yêu thương
Đức Tin là ân huệ và là lời gọi mời đi vào hành trình tuyệt vời nhất của cuộc đời.

Click đọc bài…

%d bloggers like this: